Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục (gọi tắt là Cương Mục) là bộ chính sử của nhà Nguyễn, Việt Nam, được viết bằng chữ Hán, do Quốc Sử Quán triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856-1884 (khoảng 30 người viết).
Cuốn sách được Viện Sử học Việt Nam dịch sang chữ quốc ngữ vào năm 1960, và được Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội ấn hành năm 1998.
1. Quá trình biên soạn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục được vua Tự Đức chỉ đạo biên soạn vào năm Tự Đức thứ 8 (1856), do Phan Thanh Giản làm tổng tài (chủ biên). Bộ sách được hoàn thành vào năm 1859, sau đó trải qua các lần "duyệt nghị" (1871), "duyệt kiểm" (1872), "phúc kiểm" (1876), "duyệt định" (1878), "kiểm duyệt" (1884), đến năm Kiến Phúc thứ 1 (1884) được khắc in và ban hành.
2. Tóm tắt nội dung
Khâm định Việt sử thông giám cương mục được biên soạn theo thể biên niên dựa trên cơ sở Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên, có tham khảo các sách sử của Trung Quốc cùng các sách sử khác của Việt Nam. Bộ sách được viết theo thể "cương mục" của Chu Hi thời Tống, chia ra "cương" (phần tóm tắt gọn và sáng) và "mục" (việc chép rộng ra cụ thể hơn), theo thứ tự năm, tháng, ngày ghi chép sự kiện lịch sử, tiểu sử các nhân vật, lời cẩn án giám định một số sự kiện, nhân vật và niên đại trên cơ sở khảo chứng các sách sử, tư liệu của Việt Nam và Trung Quốc, lời chú thích tên người, tên đất, chế độ thi cử, tổ chức hành chính, rải rác có các lời phê của vua Tự Đức.
Tài liệu tham khảo của Cương mục khoảng trên 200 bộ, bao gồm dã sử, thơ văn, các tác phẩm của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú... cùng các sách sử của Trung Quốc.
Bộ sách gồm 53 quyển (1 quyển thủ, 5 tiền biên và 47 chính biên). Nội dung bao gồm:
- Quyển thủ: Ghi lại dụ chỉ, tấu nghị, phàm lệ, biểu dâng, mục lục, chức danh
- Tiền biên: Trải từ thời Hồng Bàng cho đến hết năm 967, khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân
- Chính biên: Từ năm 968 khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi cho đến năm 1789, khi hết thời nhà Hậu Lê (đời Lê Chiêu Thống).
2 quyển chép về nhà Đinh và nhà Tiền Lê
3 quyển chép về nhà Lý
5 quyển chép về nhà Trần
37 quyển chép về nhà Hậu Lê
3. Sử bút
Sử bút bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục là sử bút Xuân Thu, cụ thể là sử bút bộ Cương mục của Chu Hi thời Tống, tức là phép viết sử theo một nguyên tắc khen chê nhất định. Cương mục chú ý nêu việc lớn làm "cương" để ghi việc nhỏ làm "mục" ở sau; do bị bó buộc bởi thể thức ấy nên Cương mục đã phải bỏ đi rất nhiều việc nhỏ khó gắn vào làm "mục" cho "cương" đã nêu ra.
4. Giá trị
Khâm định Việt sử thông giám cương mục là bộ sử lớn thứ hai của Việt Nam, vừa tiếp thu được nhiều thành tựu của các sử gia tiền bối, đồng thời có nhiều đóng góp riêng có giá trị về sử học. Các nhà nghiên cứu ngày nay đều coi Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục làm hai bộ sử quan trọng làm điểm khởi phát để nghiên cứu các vấn đề liên quan của lịch sử Việt Nam.
5. Hạn chế
Khâm định Việt sử thông giám cương mục có một số hạn chế như các vấn đề về Lâm Ấp, Chân Lạp, Nam Chiếu cần phải chỉnh lí lại, hoặc như các thời kì Lý, Trần về trước thì quá sơ lược.
Phần giới thiệu theo vi.wikipedia.org
Nháy vào đây để xem hoặc Download về máy tệp PDF có dung lượng 8,3 MB
Admin, 23/9/2011
Kênh thông tin số 1 về bất động sản tại Việt Nam: mua bán nhà đất, cho thuê nhà đất, văn phòng, căn hộ, biệt thự, chung cư. Các lĩnh vực liên quan đến bất ... BatDongSanAo.Com
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011
An Nam Chí Lược
Bộ "An Nam Chí Lược" do Lê Tắc soạn năm 1335 là bộ sử xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra, và gồm có nhiều sử liệu đáng quý có liên quan đến cổ sử và trung sử Việt Nam. Sách chủ yếu ghi chép về các văn bản, thư từ ngoại giao trao đổi giữa nhà Nguyên với nhà Trần cũng như phong tục, tập quán của người dân Giao Chỉ. Nguyên bản có 20 quyển, nhưng hiện tại chỉ còn 19 quyển.
Trong bộ An Nam chí lược, Lê Tắc đã dựa vào lập trường và quan điểm người Nguyên để biên soạn, dù vậy, đây là bộ sử xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra mà nay vẫn còn giữ được, và gồm có nhiều sử liệu đáng quý có liên quan đến cổ sử và trung sử Việt Nam.
Tại Việt Nam, An Nam chí lược đã được phiên dịch bởi Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Viện Đại học Huế năm 1961. Các phiên dịch viên trong Ủy ban đã phải tìm kiếm, tham khảo các truyền bản lưu trữ tại các thư viện của Nhật Bản, Trung Hoa và Anh Quốc để làm xong một hiệu bản của bộ An Nam Chí Lược và hoàn thành bản phiên dịch Việt văn. Khi biên dịch, các tác giả như Linh mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đã khẳng định: "Chúng tôi coi cuốn sách này là một sử liệu, là một đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy, bởi vậy, thành thực muốn cung cấp một bộ hiệu bản và bản dịch đáng tin cậy cho học giới mà thôi".
Bố cục sách
1. Tống tự
2. Quận ấp
3. Đại Nguyên Phụng Sứ
4. Chính Thảo Vận Hướng: Các khoản chuyển vận quân lương ra mặt trận
5. Đại Nguyên Danh Thần Vãng Phục Thơ Vấn: Những bức thư của các danh thần nhà Đại Nguyên gởi qua nước An Nam
6. Biểu Chương
7. Các quan Thứ sử, Thái thú Giao Châu (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam)
8. Các Đô Đốc, Thứ sử Giao Châu (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam)
9. Các quan Đô đốc, Đô hộ các quận Giao Châu (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam)
10. Những người tôi các đời trước sang ký ngụ
11. Gia thế Họ Triệu
12. Gia thế Họ Lý
13. Gia thế Họ Trần
14. Học Hiệu
15. Nhân vật: Những người chịu quan tước của Trung Quốc
16. Tạp Ký
17. Thơ của các danh nhân đi sứ An nam, từ niên hiệu Chí Nguyên trở xuống
18. Thơ của các danh nhân An Nam
19. Đồ Chí Ca
Phần giới thiệu theo vi.wikipedia.org
Nháy vào đây để Xem chi tiết hoặc Download về máy
Admin, 22/9/2011
Trong bộ An Nam chí lược, Lê Tắc đã dựa vào lập trường và quan điểm người Nguyên để biên soạn, dù vậy, đây là bộ sử xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra mà nay vẫn còn giữ được, và gồm có nhiều sử liệu đáng quý có liên quan đến cổ sử và trung sử Việt Nam.
Tại Việt Nam, An Nam chí lược đã được phiên dịch bởi Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Viện Đại học Huế năm 1961. Các phiên dịch viên trong Ủy ban đã phải tìm kiếm, tham khảo các truyền bản lưu trữ tại các thư viện của Nhật Bản, Trung Hoa và Anh Quốc để làm xong một hiệu bản của bộ An Nam Chí Lược và hoàn thành bản phiên dịch Việt văn. Khi biên dịch, các tác giả như Linh mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đã khẳng định: "Chúng tôi coi cuốn sách này là một sử liệu, là một đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy, bởi vậy, thành thực muốn cung cấp một bộ hiệu bản và bản dịch đáng tin cậy cho học giới mà thôi".
Bố cục sách
1. Tống tự
2. Quận ấp
3. Đại Nguyên Phụng Sứ
4. Chính Thảo Vận Hướng: Các khoản chuyển vận quân lương ra mặt trận
5. Đại Nguyên Danh Thần Vãng Phục Thơ Vấn: Những bức thư của các danh thần nhà Đại Nguyên gởi qua nước An Nam
6. Biểu Chương
7. Các quan Thứ sử, Thái thú Giao Châu (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam)
8. Các Đô Đốc, Thứ sử Giao Châu (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam)
9. Các quan Đô đốc, Đô hộ các quận Giao Châu (Giao Châu, Cửu Chân và Nhật Nam)
10. Những người tôi các đời trước sang ký ngụ
11. Gia thế Họ Triệu
12. Gia thế Họ Lý
13. Gia thế Họ Trần
14. Học Hiệu
15. Nhân vật: Những người chịu quan tước của Trung Quốc
16. Tạp Ký
17. Thơ của các danh nhân đi sứ An nam, từ niên hiệu Chí Nguyên trở xuống
18. Thơ của các danh nhân An Nam
19. Đồ Chí Ca
Phần giới thiệu theo vi.wikipedia.org
Nháy vào đây để Xem chi tiết hoặc Download về máy
Admin, 22/9/2011
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)