Người già yếu thuộc phạm trù chứng “hư lao” của y học cổ truyền. Chứng “hư lao” thì lấy nguyên khí hao tổn làm đặc trưng và có liên quan chặt chẽ đến “tiên thiên”[1]mạnh hay yếu và nhất là “hậu thiên”[2] có được đầy đủ hay không. Để chữa chứng hư lao thì phải dùng phép bổ.
Người bị hư hao hầu như bao gồm lục phủ, ngũ tạng cùng toàn thân suy nhược và được quy nạp thành 4 loại là: Khí hư, huyết hư, dưỡng hư, âm hư với các triệu chứng cụ thể của từng loại.
Khí hư:
Sắc mặt vàng úa, người mệt mỏi lúc rét, lúc nóng, tự ra mồ hôi, đoản hơi, suyễn thở, mạch nhuyễn nhược, nếu khí hư đến cực độ (tức là dương hư) thì mạch thường chuyển sang trầm tế. Nếu khí hư dùng bài thuốc “Bổ trung ích khí” gồm có các vị thuốc: Hoàng kỳ 20g, chích thảo 4g, thăng ma 6g, đảng sâm 16g, đương quy 12g, sài hồ 10g, bạch truật 12g, trần bì 6g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.
Bài thuốc này có tác dụng thăng dương ích khí, điều bổ tỳ vị. Tốt với người khí hư, cơ thể suy nhược, đặc biệt những người mắc bệnh về đường tiêu hoá như viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính.
Huyết hư:
Sắc mặt trắng nhợt không sáng, mắt hoa, đầu choáng, kinh hãi, hồi hộp, da thịt khô ráp. Nếu là phụ nữ có chứng kinh nguyệt khô sáp mà ít. Nếu bị huyết hư thì phải bổ huyết, thường phối hợp với bổ khí để tăng cường tác dụng và dùng bài thuốc “Quy tỳ thang” với các vị thuốc: Nhân sâm 12g, phục thần 12g, táo nhân 16g, viễn chí 6g, đại táo 3 quả, hoàng kỳ 12g, mộc hương 4g, sinh khương 3 lát, bạch truật 12g, long nhãn 12g, đương quy 12g, chích thảo 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí bổ huyết, chữa chứng khí hư sinh huyết hư, trị các bệnh suy nhược có hội chứng bệnh lý tâm tỳ lượng hư, khí huyết bất túc sinh ra các triệu chứng mất ngủ, chán ăn, hay quên, tim hồi hộp, cơ thể mệt mỏi, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.
Khí huyết lưỡng hư:
Người mệt mỏi, gầy yếu, chán ăn, ăn không tiêu, mất ngủ, da mặt nhợt nhạt, thở đoản hơi, chân tay bủn rủn sức yếu… trong trường hợp này dùng bài “Thập toàn đại bổ” với các vị thuốc: Đương quy 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, xuyên khung 8g, táo 3 quả, đảng sâm 12g, bạch truật 12g, thục địa 12g, hoàng kỳ 16g, nhục quế 6g. Cho vào 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.
Bài thuốc có tác dụng bổ khí, bổ huyết chữa khí huyết lưỡng hư sau khi mắc bệnh lâu ngày, cơ thể yếu mệt, kém ăn, mất ngủ, nam giới tay chây tê mỏi, phụ nữ kinh nguyệt rối loạn.
Âm hư:
Có khi gò má đỏ, nóng nảy, hay giận dữ, mất ngủ, kém ăn, ho mất tiếng, nóng có cơ mồ hôi trộm, lưỡi ráo hang khô, đại tiện táo kết, miệng lở, nam thì di tinh, nữ thì bế kinh. Dùng bài thuốc “Lục vị địa hoàng hoàn” với các vị thuốc: Thục địa 20g, sơn thù 16g, trạch tả 12g, hoài sơn 16g, phục linh 12g, đan bì 12g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc có tác dụng tư bổ can thận dùng điều trị các bệnh mãn tính như suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, lao phổi, lao then, tiểu đường, viêm thận, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đề phòng tai biến mạch máu não.
Dương hư:
Sắc mặt xanh bột, đầu choáng, mắt hoa, mỏi mệt, ít hơi, ngại nói, ăn ít, đại tiện sền sệt, sợ lạnh, tay chân thường không ấm, dương suy, đoản khí, lưng gối mỏi, tiểu tiện nhiều đêm. Dùng bài thuốc “Thận khí hoàn” với các vị thuốc: Địa hoàng 24g, sơn thù 16g, bạch linh 12g, quế chi 4g, sơn dược 16g, trạch tả 12g, đan bì 12g, phụ tử chế 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc có tác dụng ôn bổ thận dương, chữa các bệnh mãn tính, như viêm thận mạn, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, bệnh béo phì, liệt dương, tiêu đờm, người già suy nhược có hội chứng thận dương hư.
Thuốc bổ dưỡng:
Theo y học cổ truyền, thuốc bổ dưỡng là những loại thuốc dùng chữa chứng dương hư. Chứng dương hư thường gặp trên lâm sàng là thận dương hư, tỳ dương hư và tâm dương hư. Nhưng do thận vừa là gốc của Tiên thiên (tiên thiên chi bản) vừa là căn bản của sự sống (sinh mệnh chi căn bản) toàn bộ dương khí trong ngoài (có thể nói dương khí là năng lượng hoạt động của sinh mệnh) là do thận cung cấp và duy trì (thận chủ mệnh môn hoả), cho nên thuốc bổ dưỡng chủ yếu là bổ thận dương. Thuốc bổ dưỡng có những tác dụng:
- Điều chỉnh chức năng tuyến vỏ thượng thận
- Điều chỉnh chuyển hoá năng lượng, tăng cường sản nhiệt.
- Làm khoẻ cơ thể, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển.
- Tăng cường chức năng sinh dục.
- Nâng cao sức đề kháng của cơ thể.
Xin giới thiệu bài thuốc “Đại bổ thận tráng dương” dùng cho người cao tuổi (nam) dương hư, thận suy, yếu mệt, liệt dương, di tinh kém ăn, mất ngủ gồm các vị: Nhân sâm 12g, hoàng kỳ 16g, đỗ trọng 16g, nhục thung dung 8g, thỏ ty tử 12g, xa sàng tử 12g, phúc bồn tử 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, toả dương 10g, dâm dương hoắc 12g, lộc nhung 12g, kỷ tử 12g, đại táo 5 quả, long nhãn 10g, cam thảo 6g, xuyên khung 8g, hà thủ ô đỏ 12g. Tất cả cho vào 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống 7 thang liền thì cơ thể sẽ khoẻ, ăn ngon, ngủ yên, dai sức hết mệt mỏi di tinh, liệt dương.
Cùng bài thuốc trên với số lượng gấp 5 lần mỗi vị cho vào 5 lít rượu, ngâm trong 3 tuần lễ, chắt ra, cho thêm 500ml mật ong loại tốt, mỗi ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 20 – 30ml.
Lương y Vũ Quốc Trung
Kênh thông tin số 1 về bất động sản tại Việt Nam: mua bán nhà đất, cho thuê nhà đất, văn phòng, căn hộ, biệt thự, chung cư. Các lĩnh vực liên quan đến bất ... BatDongSanAo.Com
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc đông y. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc đông y. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011
Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011
Hại người vì dùng cam thảo dài ngày
Cam thảo là vị thuốc phổ biến trong đông y lẫn tây y và cả trong công nghiệp thực phẩm, với khá nhiều đồ ăn, thức uống có thành phần cam thảo. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây cho biết việc dùng dài ngày cam thảo và các chế phẩm chứa cam thảo có thể gây ra một số phản ứng phụ, nguy hiểm cho sức khoẻ.
Công dụng của cam thảo
Cam thảo vị ngọt, tính bình. Có tác dụng ích khí, giải độc, bổ tỳ dưỡng vị, nhuận phế, hoá đàm. Trong đông y, ngoài tác dụng ích khí, cam thảo thường dùng để giảm độc tính một số vị thuốc hoặc điều hoà quá trình hấp thu các vị thuốc, nhất là các vị thuốc có độc tính, lạnh quá hoặc nóng quá. Đối với viêm loét dạ dày, cam thảo có khả năng ức chế tiết axit dịch vị và histamin, giúp vết loét chóng lành. Gần đây, cam thảo còn được dùng trong một số bài thuốc điều trị viêm gan do tác dụng giảm những phản ứng viêm và giảm hoại tử tế bào gan.
Cam thảo có độ ngọt rất cao, ngọt hơn 50 lần so với mía. Do đó, thảo dược này cũng được sử dụng nhiều trong công nghệ làm bánh kẹo. Trong dân gian, nhiều người sử dụng cam thảo phối hợp với vài thảo dược khác như nụ vối, thảo quyết minh, hoa hoè… thay trà uống hàng ngày, giúp giải khát, thanh nhiệt hoặc ích khí, giải độc.
Cảnh báo một số tác dụng phụ
Gần đây, các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra hoạt chất glycyrrhizic axit trong cam thảo có thể gây ra một số tác dụng phụ. Đáng quan tâm nhất là các triệu chứng tăng bài tiết kali, giữ nước, tăng huyết áp. Nhiều thí nghiệm cho biết dùng dài hạn (trên hai tuần) sản phẩm có chứa glycyrrhizic axit với liều khoảng 500mg mỗi ngày (tương đương khoảng 10g cam thảo) có thể gây ra những phản ứng trên. Cũng có tài liệu cho biết dùng đến 50g cam thảo/ngày trong hai tuần mới dẫn đến huyết áp cao đáng kể. Một quan điểm khác thì cho rằng phần lớn các trường hợp giữ nước, tăng huyết áp rơi vào những người ăn quá nhiều kẹo chứa cam thảo.
Tiếp tục nghiên cứu, các nhà khoa học ghi nhận hoạt chất glycyrrhizic axit trong cam thảo còn làm giảm lượng testosteron ở nam giới, bằng cách ức chế loại enzyme giúp tổng hợp nội tiết tố này. Gây chú ý nhất là một nghiên cứu ở Ý cho biết liều dùng 500mg glycyrrhizic axit/ngày sẽ giảm đáng kể lượng testosteron ở nam giới khoẻ mạnh. Từ đây, các nhà khoa học khuyến cáo không nên dùng cam thảo cho đàn ông bị thiểu năng sinh dục.
Tuy nhiên, một nghiên cứu lặp lại hai lần của một nhóm các nhà khoa học khác thì lại thấy độ giảm gây ra không đáng kể! Sau đó, một cuộc thử nghiệm độc lập do các nhà khoa học Iran tiến hành trên 20 đàn ông khoẻ mạnh. Những người tham gia dùng mỗi ngày 1,3g chất chiết xuất từ cam thảo phơi khô (tương đương từ 400mg đến 500mg glycyrrhizic axit hoặc khoảng 10g cam thảo) trong mười ngày liên tiếp. Kết quả, mẫu máu lấy trước khi thử nghiệm và 20 ngày sau đó đã cho thấy dùng cam thảo làm giảm khoảng 35% lượng testosteron.
Dùng thế nào cho an toàn ?
Theo khuyến cáo của Uỷ ban châu âu (bộ phận chuyên trách các vấn đề pháp lý của Cộng đồng châu âu), mỗi người không nên dùng quá 100mg glycyrrhizic axit mỗi ngày. Còn theo các nhà khoa học Nhật Bản, con số này là 200mg. Nếu tính trên cơ sở 500mg glycyrrhizic axit cho mỗi 10g cam thảo, liều lượng trên chỉ tương ứng với khoảng 2g hoặc 4g cam thảo mỗi ngày.
Trên thực tế, ngoại trừ một số ít trường hợp dùng liều cao ngắn hạn, cho một số bệnh cấp tính, liều cam thảo trung bình trong nhiều phương dược đông y thường từ 4g đến 6g. Đối với một số trà dược có cam thảo, mỗi gói cũng chỉ chứa từ 1g đến 2g. Trong một thang thuốc, cam thảo lại được cơ cấu trong mối tương quan “quân thần tá sứ” để vừa nâng cao hiệu quả điều trị chung, vừa giảm tác dụng phụ của các vị thuốc. Với cách làm này, tác dụng phụ của cam thảo sẽ giảm thiểu.
Tuy nhiên, trước những cảnh báo nêu trên, nhất là trong tình trạng các loại bệnh tim mạch và cao huyết áp đang gia tăng trong cộng đồng, thầy thuốc và người sử dụng nên lưu ý không dùng cam thảo dài hạn. Trong khi chờ đợi những nghiên cứu sâu hơn, trước mắt, nếu dùng trên 4g/ngày, chỉ nên dùng từng liệu trình ngắn từ 5 – 7 ngày, nghỉ vài ngày trước khi dùng tiếp.
Những người không nên dùng cam thảo
Không dùng cam thảo cho các trường hợp cao huyết áp, thấp trệ, người đang mang thai hoặc gan, thận suy yếu. Ngoài ra, do tác dụng tương kỵ nhau, không dùng cam thảo phối hợp với các vị thuốc cam toại, đại kích, nguyên hoa
Theo Tiền phòng
Công dụng của cam thảo
Cam thảo vị ngọt, tính bình. Có tác dụng ích khí, giải độc, bổ tỳ dưỡng vị, nhuận phế, hoá đàm. Trong đông y, ngoài tác dụng ích khí, cam thảo thường dùng để giảm độc tính một số vị thuốc hoặc điều hoà quá trình hấp thu các vị thuốc, nhất là các vị thuốc có độc tính, lạnh quá hoặc nóng quá. Đối với viêm loét dạ dày, cam thảo có khả năng ức chế tiết axit dịch vị và histamin, giúp vết loét chóng lành. Gần đây, cam thảo còn được dùng trong một số bài thuốc điều trị viêm gan do tác dụng giảm những phản ứng viêm và giảm hoại tử tế bào gan.
Cam thảo có độ ngọt rất cao, ngọt hơn 50 lần so với mía. Do đó, thảo dược này cũng được sử dụng nhiều trong công nghệ làm bánh kẹo. Trong dân gian, nhiều người sử dụng cam thảo phối hợp với vài thảo dược khác như nụ vối, thảo quyết minh, hoa hoè… thay trà uống hàng ngày, giúp giải khát, thanh nhiệt hoặc ích khí, giải độc.
Cảnh báo một số tác dụng phụ
Gần đây, các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra hoạt chất glycyrrhizic axit trong cam thảo có thể gây ra một số tác dụng phụ. Đáng quan tâm nhất là các triệu chứng tăng bài tiết kali, giữ nước, tăng huyết áp. Nhiều thí nghiệm cho biết dùng dài hạn (trên hai tuần) sản phẩm có chứa glycyrrhizic axit với liều khoảng 500mg mỗi ngày (tương đương khoảng 10g cam thảo) có thể gây ra những phản ứng trên. Cũng có tài liệu cho biết dùng đến 50g cam thảo/ngày trong hai tuần mới dẫn đến huyết áp cao đáng kể. Một quan điểm khác thì cho rằng phần lớn các trường hợp giữ nước, tăng huyết áp rơi vào những người ăn quá nhiều kẹo chứa cam thảo.
Tiếp tục nghiên cứu, các nhà khoa học ghi nhận hoạt chất glycyrrhizic axit trong cam thảo còn làm giảm lượng testosteron ở nam giới, bằng cách ức chế loại enzyme giúp tổng hợp nội tiết tố này. Gây chú ý nhất là một nghiên cứu ở Ý cho biết liều dùng 500mg glycyrrhizic axit/ngày sẽ giảm đáng kể lượng testosteron ở nam giới khoẻ mạnh. Từ đây, các nhà khoa học khuyến cáo không nên dùng cam thảo cho đàn ông bị thiểu năng sinh dục.
Tuy nhiên, một nghiên cứu lặp lại hai lần của một nhóm các nhà khoa học khác thì lại thấy độ giảm gây ra không đáng kể! Sau đó, một cuộc thử nghiệm độc lập do các nhà khoa học Iran tiến hành trên 20 đàn ông khoẻ mạnh. Những người tham gia dùng mỗi ngày 1,3g chất chiết xuất từ cam thảo phơi khô (tương đương từ 400mg đến 500mg glycyrrhizic axit hoặc khoảng 10g cam thảo) trong mười ngày liên tiếp. Kết quả, mẫu máu lấy trước khi thử nghiệm và 20 ngày sau đó đã cho thấy dùng cam thảo làm giảm khoảng 35% lượng testosteron.
Dùng thế nào cho an toàn ?
Theo khuyến cáo của Uỷ ban châu âu (bộ phận chuyên trách các vấn đề pháp lý của Cộng đồng châu âu), mỗi người không nên dùng quá 100mg glycyrrhizic axit mỗi ngày. Còn theo các nhà khoa học Nhật Bản, con số này là 200mg. Nếu tính trên cơ sở 500mg glycyrrhizic axit cho mỗi 10g cam thảo, liều lượng trên chỉ tương ứng với khoảng 2g hoặc 4g cam thảo mỗi ngày.
Trên thực tế, ngoại trừ một số ít trường hợp dùng liều cao ngắn hạn, cho một số bệnh cấp tính, liều cam thảo trung bình trong nhiều phương dược đông y thường từ 4g đến 6g. Đối với một số trà dược có cam thảo, mỗi gói cũng chỉ chứa từ 1g đến 2g. Trong một thang thuốc, cam thảo lại được cơ cấu trong mối tương quan “quân thần tá sứ” để vừa nâng cao hiệu quả điều trị chung, vừa giảm tác dụng phụ của các vị thuốc. Với cách làm này, tác dụng phụ của cam thảo sẽ giảm thiểu.
Tuy nhiên, trước những cảnh báo nêu trên, nhất là trong tình trạng các loại bệnh tim mạch và cao huyết áp đang gia tăng trong cộng đồng, thầy thuốc và người sử dụng nên lưu ý không dùng cam thảo dài hạn. Trong khi chờ đợi những nghiên cứu sâu hơn, trước mắt, nếu dùng trên 4g/ngày, chỉ nên dùng từng liệu trình ngắn từ 5 – 7 ngày, nghỉ vài ngày trước khi dùng tiếp.
Những người không nên dùng cam thảo
Không dùng cam thảo cho các trường hợp cao huyết áp, thấp trệ, người đang mang thai hoặc gan, thận suy yếu. Ngoài ra, do tác dụng tương kỵ nhau, không dùng cam thảo phối hợp với các vị thuốc cam toại, đại kích, nguyên hoa
Theo Tiền phòng
Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011
Thạch cao
Thạch cao (石膏), Gypsum Fibrosum
Tên khác: Đại thạch cao, Băng thạch.
Tên khoa học: Gypsum Fibrosum
Mô tả:
Thạch cao là 1 khối tập hợp của các sợi theo chiều dài, hình phiến hoặc các miếng không đều, màu trắng, trắng xám hoặc vàng nhạt, đôi khi trong suốt. Thể nặng, chất xốp, mặt cắt dọc có sợi óng ánh. Thạch cao màu trắng, bóng, mảnh to, xốp, mặt ngoài như sợi tơ, không lẫn tạp chất là tốt. Không mùi, vị nhạt.
Bộ phận dùng : Vị thuốc là chất khoáng có thành phần chủ yếu là Calci sunfat ngậm 2 phân tử nước.
Phân bố: Những mỏ khoáng này có ở nhiều địa phương nước ta.
Chế biến: Lấy thạch cao, rửa sạch, phơi khô, đập ra thành miếng nhỏ, loại bỏ các đá tạp, sau nghiền thành bột thô, gọi là sinh thạch cao.
Thành phần hoá học: Chủ yếu là CaSO4. 2H2O, có lẫn ít đất sét, cát, hợp chất sunfua, đôi khi có lẫn ít sắt, magiê.
Tác dụng: Sinh thạch cao: Thanh nhiệt tả hoả, trừ phiền chỉ khát. Đoạn thạch cao: Thu thấp, sinh cơ, liễm sang, chỉ huyết.
Công dụng:
- Sinh thạch cao: Thực nhiệt ở phần khí của phế vị (sốt cao, mồ hôi nhiều khát nhiều, mạch hồng đại), nhiệt độc thịnh ở kinh mạch (sốt cao phát ban), giai đoạn sau của bệnh ôn (còn sốt nhẹ, tâm phiền, miệng khô, hơi đỏ), viêm lợi.
- Đoạn thạch cao: Dùng ngoài điều trị vết loét không thu miệng, ngứa do thấp chẩn, bỏng nước, bỏng lửa, ngoại thương chảy máu.
- Thạch cao khan nước (CaSO4. 1/2H2O) để làm bột bó, đắp khuôn bó bột.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 12 - 40g (thuốc sắc), 2 - 4g (thuốc bột).
Bào chế : Đoạn thạch cao: Lấy sinh thạch cao sạch, đập thành khối nhỏ, bỏ vào lò lửa không khói, nung đến khi tơi bở, lấy ra, để nguội, đập vụn.
Kiêng kỵ: Chứng hư hàn không dùng.
Chú ý: Không được uống bột thạch cao đã rang vì uống vào sẽ hút nước nở ra, rắn lại và gây tắc ruột.

Theo http://thuocdongduoc.vn/cay-thuoc-vi-thuoc
Chú ý của Editor: Thạch cao là 1 thành phần chủ yếu (40g trong 100 ml) của thốc ho "Siro Slaska" do TRAPHACO sản xuất.
Tên khác: Đại thạch cao, Băng thạch.
Tên khoa học: Gypsum Fibrosum
Mô tả:
Thạch cao là 1 khối tập hợp của các sợi theo chiều dài, hình phiến hoặc các miếng không đều, màu trắng, trắng xám hoặc vàng nhạt, đôi khi trong suốt. Thể nặng, chất xốp, mặt cắt dọc có sợi óng ánh. Thạch cao màu trắng, bóng, mảnh to, xốp, mặt ngoài như sợi tơ, không lẫn tạp chất là tốt. Không mùi, vị nhạt.
Bộ phận dùng : Vị thuốc là chất khoáng có thành phần chủ yếu là Calci sunfat ngậm 2 phân tử nước.
Phân bố: Những mỏ khoáng này có ở nhiều địa phương nước ta.
Chế biến: Lấy thạch cao, rửa sạch, phơi khô, đập ra thành miếng nhỏ, loại bỏ các đá tạp, sau nghiền thành bột thô, gọi là sinh thạch cao.
Thành phần hoá học: Chủ yếu là CaSO4. 2H2O, có lẫn ít đất sét, cát, hợp chất sunfua, đôi khi có lẫn ít sắt, magiê.
Tác dụng: Sinh thạch cao: Thanh nhiệt tả hoả, trừ phiền chỉ khát. Đoạn thạch cao: Thu thấp, sinh cơ, liễm sang, chỉ huyết.
Công dụng:
- Sinh thạch cao: Thực nhiệt ở phần khí của phế vị (sốt cao, mồ hôi nhiều khát nhiều, mạch hồng đại), nhiệt độc thịnh ở kinh mạch (sốt cao phát ban), giai đoạn sau của bệnh ôn (còn sốt nhẹ, tâm phiền, miệng khô, hơi đỏ), viêm lợi.
- Đoạn thạch cao: Dùng ngoài điều trị vết loét không thu miệng, ngứa do thấp chẩn, bỏng nước, bỏng lửa, ngoại thương chảy máu.
- Thạch cao khan nước (CaSO4. 1/2H2O) để làm bột bó, đắp khuôn bó bột.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 12 - 40g (thuốc sắc), 2 - 4g (thuốc bột).
Bào chế : Đoạn thạch cao: Lấy sinh thạch cao sạch, đập thành khối nhỏ, bỏ vào lò lửa không khói, nung đến khi tơi bở, lấy ra, để nguội, đập vụn.
Kiêng kỵ: Chứng hư hàn không dùng.
Chú ý: Không được uống bột thạch cao đã rang vì uống vào sẽ hút nước nở ra, rắn lại và gây tắc ruột.
Theo http://thuocdongduoc.vn/cay-thuoc-vi-thuoc
Chú ý của Editor: Thạch cao là 1 thành phần chủ yếu (40g trong 100 ml) của thốc ho "Siro Slaska" do TRAPHACO sản xuất.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)